Đinh Trần Tuấn Anh
Bộ phim tiểu sử về cố đạo diễn Anthony Bourdain kể về chuyến hành trình đầu tiên và có lẽ cũng là quan trọng nhất của ông: một mùa hè bỏ nhà đi làm rửa bát ở một thị trấn ven biển.
Đối với nhiều người Việt Nam, lần đầu chúng ta biết tới cố đầu bếp Anthony Bourdain là qua đoạn clip nổi tiếng khi ông ngồi ăn bún chả cùng Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Khi đó, có lẽ nhiều người thậm chí còn không biết ông là một đầu bếp nổi tiếng; mà chỉ thấy một người đàn ông từng trải, thông thái, hết sức trân trọng văn hóa và ẩm thực Việt Nam, ngồi trò chuyện với Tổng thống Hoa Kỳ như thể hai người bạn lâu năm.
Nhưng Bourdain đâu phải vốn luôn là một người như vậy. Theo chính lời của ông, Bourdain từng là “một tên nhãi ranh hư hỏng, khốn khổ, ái kỷ, vô tâm và thích tự hủy hoại bản thân, đáng bị ăn một trận nhừ đòn.” Câu nói ấy cũng là những dòng chữ mở đầu bộ phim “Tony”, tác phẩm tiểu sử kể lại trải nghiệm đầu tiên của Bourdain với thế giới ẩm thực, và có lẽ cả thế giới nói chung.

Đó là mùa hè năm 1975. Cậu thanh niên Tony (do Dominic Sessa thủ vai) 19 tuổi vừa bị từ chối bởi một chương trình học bổng văn chương mà cậu từng chắc nịch sẽ thuộc về mình. Một người chững chạc hơn có lẽ sẽ chọn tiếp tục học chuyên ngành hiện tại và cố gắng thử lại sau một năm, nhưng Tony thì vẫn tràn đầy sự nông nổi của tuổi trẻ. Ngay buổi tối hôm đó, cậu ăn trộm tiền của bố mẹ, rồi bỏ nhà ra đi đến thị trấn biển Provincetown tại bán đảo Cape Cod xa xôi để theo đuổi Nancy (Emilia Jones), cô gái cậu từng phải lòng thời trung học. Tìm được Nancy xong thì làm gì, chính Tony có lẽ cũng không biết.
Nhưng Provincetown không phải một nơi sẽ khoan dung với thứ lạc quan hão huyền đầy cố chấp của một gã thanh niên nông nổi. Ngay đêm đầu tiên ở thị trấn biển, Tony uống say và bị mất hết tiền, để rồi nói dối với Nancy rằng cậu đang viết sách và nhận công việc rửa chén tại một quán ăn nhỏ để tiếp tục được tá túc ở đây.
Hai người đàn ông Tony gặp trong căn bếp ấy sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong mùa hè của cậu. Một người là vị bếp trưởng vô danh (do Antonio Banderas thủ vai), ân cần nhưng nghiêm khắc, kín đáo và tận tụy với nghề, ngay cả khi sự tận tụy ấy đôi khi không được coi trọng. Người còn lại là Sal (Leo Woodall), gã đàn anh phóng khoáng, trăng hoa và sa đọa, người dẫn Tony tới những pha “trải đời” đầu tiên đầy hấp dẫn nhưng cũng không ít cạm bẫy.
Cố gắng bám trụ lại vì Nancy hay trở về với cuộc sống nhàm chán với gia đình? Chấp nhận sự thật hay tiếp tục sống trong dối trá? Trưởng thành qua kỷ luật hay nông nổi trong sự buông thả? Mùa hè ở Provincetown cứ liên tục đặt những câu hỏi này với Tony, cho tới khi cậu tự tìm được câu trả lời.

“Tony” lấy cảm hứng từ vài chương đầu của “Kitchen Confidential: Adventures in the Culinary Underbelly”, cuốn hồi ký từng rất ăn khách của Anthony Bourdain. Lấy cảm hứng chứ không phải chuyển thể, vì bộ phim đôi khi sáng tạo thêm các tình tiết, cô đọng các mốc thời gian, và lược bỏ hoặc kết hợp một vài nhân vật để câu chuyện không trở nên quá ôm đồm. Thứ trung thành tuyệt đối với nguyên tác là đại ý bao trùm lên những chương sách ấy, rằng mùa hè ngắn ngủi ở thị trấn ven biển ấy đã định hình nên người đầu bếp Anthony Bourdain tới nhường nào. “Tony” là một bộ phim tuổi mới lớn, diễn ra chủ yếu trong một căn bếp nhỏ.
Chính điều này khiến những lựa chọn của đạo diễn Matt Johnson trở nên bất ngờ. Johnson là người đứng sau “Operation Avalanche”, “BlackBerry” và “Nirvanna the Band the Show the Movie”, những tác phẩm (phần lớn theo phong cách “giả tài liệu”) nhiều năng lượng tới hỗn loạn, chứa đầy những pha ứng biến không kịch bản và các miếng hài khô khốc. Song với “Tony”, đạo diễn Matt Johnson như chuyển sang một nhịp điệu hoàn toàn khác, vẽ nên một bức chân dung ấm áp và thân mật vô cùng, dù có thể đôi chút đơn giản và rập khuôn. Bộ phim – với những khung hình khiến khán giả tưởng chừng như có thể cảm nhận được bằng giác quan, có thể ngửi thấy mùi mặn và tanh của biển, mùi khét của lớp vỏ tôm hùm trong lò nướng hay mùi thơm nồng của món sốt hải sản trên bếp lửa – như một tác phẩm slice-of-life nhẹ nhàng, tới mức trở nên lạc quẻ giữa dàn tác phẩm “độc lạ” của A24, và có lẽ tương đồng hơn với “CODA”, bộ phim đoạt Oscar năm 2021 cũng có sự góp mặt của nữ diễn viên Emilia Jones.
Quả thực, một câu chuyện tuổi mới lớn diễn ra trong vòng một mùa hè là thứ mô-típ đã “xưa như trái đất”, và có lẽ chính đạo diễn Johnson cùng các đồng biên kịch Matthew Miller, Todd Bartels và Lou Howe cũng hiểu rõ điều này. Mỗi nhịp truyện của “Tony”, dù chẳng thiếu sự chân thành, luôn quen thuộc và khá dễ đoán. Có lẽ vì vậy nên nhà làm phim đặt trọn niềm tin vào những màn diễn xuất tinh tế của dàn diễn viên để truyền tải phần lớn cảm xúc của câu chuyện.

Như mọi bộ phim tiểu sử, thành bại của “Tony” gần như dựa hoàn toàn vào diễn viên chính. Mỗi diễn viên tham gia phim tiểu sử sẽ nhận trọng trách khắc họa một con người thật đã quá đỗi quen thuộc với công chúng. Riêng với trường hợp của Anthony Bourdain, người đã trở thành một tượng đài trong văn hóa đại chúng, trọng trách ấy lại càng nặng nề.
Vinh dự được hóa thân thành Bourdain được trao cho diễn viên trẻ Dominic Sessa, người mà trong CV mới chỉ có vỏn vẹn năm bộ phim điện ảnh. (Nhưng nên nhớ một trong số đó là vai diễn đột phá trong “The Holdovers”, mang về cho anh giải thưởng Critics’ Choice và một đề cử BAFTA.) Trong “Tony”, anh khắc họa Bourdain thời trẻ như một tên nhãi ranh công tử bột, tự phụ, dối trá, non nớt và thích ra vẻ ta đây. Tony vụng về và hoàn toàn thiếu vốn sống. Cậu trích dẫn văn chương từ những cuốn sách chưa từng đọc. Cậu khoác lên mình một lớp vỏ của sự tự tin, nhưng vỏ bọc ấy cứ liên tục nứt ra, để lộ sự lúng túng bên trong; và khán giả chúng ta, cũng như cô nàng Nancy cậu đang theo đuổi, đều có thể nhìn thấu. Đây là một vai diễn khá nhiều rủi ro, vì rất dễ diễn hỏng và biến Tony thành một nhân vật khó ưa. Thế nhưng Sessa cẩn trọng cân chỉnh từng nhịp diễn, để khán giả vẫn đứng về phía Tony, kể cả đôi khi phải thở dài với những quyết định mà nhân vật đó đưa ra.
Song, người tỏa sáng nhất có lẽ lại là diễn viên gạo cội Antonio Banderas, thủ vai nam phụ của bộ phim. Người bếp trưởng của ông từng là một ai đó có tiếng tăm trong làng ẩm thực, giờ chui lủi trong căn bếp xập xệ của một quán ăn nhỏ nơi đất khách quê người. Vẻ ngoài nghiêm khắc giấu đi một trái tim ấm áp, ông dần mở lòng với Tony, trở thành một người thầy, thậm chí mang hình bóng một người cha mà cậu chưa bao giờ thực sự tìm thấy trong chính gia đình của mình. Con người hiền hậu, hết lòng cống hiến cho kỷ luật và đức tin của ông đối lập hoàn toàn với Sal, người đồng nghiệp và đàn anh đầy mang dáng dấp một “trai hư”, phong trần và ngạo nghễ. Một người dạy Tony cách đứng vững trong căn bếp của mình. Người kia dạy cậu rằng đôi khi chúng ta phải biết cách bước ra khỏi đó.

Điểm khiến “Tony” trở nên đáng quý là bộ phim dám khắc họa Anthony Bourdain như một kẻ khó ưa, để rồi từng chút một khơi gợi sự đồng cảm nơi khán giả, chậm rãi như cách người đầu bếp ninh một nồi nước dùng suốt nhiều giờ. Quá nhiều phim tiểu sử ngày nay chẳng khác nào những tác phẩm thuần tôn sùng thần tượng, khắc họa nhân vật theo một câu chuyện sạch sẽ không tì vết, dựa vào thiện cảm sẵn có của người hâm mộ. “Michael”, bộ phim ra mắt năm nay về ông hoàng nhạc Pop, là một ví dụ điển hình.
Một tiền truyện về Anthony Bourdain, khắc họa một phiên bản thời trẻ đầy khiếm khuyết của ông, chỉ có thể đạt được hiệu quả mong muốn vì khán giả đã biết sẵn Anthony Bourdain là ai. Chúng ta biết thằng nhóc ngổ ngáo trên màn ảnh kia rồi sẽ trở thành một con người như thế nào. Và khi một ai đó đã được văn hóa đại chúng huyền thoại hóa suốt nhiều năm, có điều gì đó thật đặc biệt khi chứng kiến hình tượng ấy được gột rửa khỏi những lớp sơn hào nhoáng, để lộ ra một con người bằng xương bằng thịt, đầy khiếm khuyết và sai sót, đầy những giây phút lạc lối và đau khổ.
Ý niệm rằng những trải nghiệm trong cuộc sống nhào nặn và định hình nên tính cách mỗi người, đặc biệt là trong những năm tháng tuổi trẻ, chính là thông điệp cốt lõi của bộ phim “Tony”. Tới cuối phim, Tony tạm biệt thị trấn Provincetown. Cậu tạm biệt cơ hội được gặp lại Nancy, cô gái mà cậu đã bỏ nhà để đi tìm. Cậu tạm biệt cả thứ ảo tưởng cậu vẫn kể với người khác, và có lẽ tự nhủ cả với bản thân, rằng cậu là một nhà văn. Trước mắt Tony là Học viện Ẩm thực Hoa Kỳ, với hành trang vỏn vẹn là một lá thư giới thiệu từ người bếp trưởng, kinh nghiệm rửa bát, sơ chế thực phẩm, và… phóng hỏa nhà hàng.
Chúng ta biết Tony rồi sẽ trở thành ai. Một trong những đầu bếp nổi tiếng nhất thế giới. Một tác giả có hàng chục đầu sách bán chạy. Một nhà làm phim tài liệu rong ruổi khắp nơi để theo đuổi những cuộc phiêu lưu ẩm thực và trân trọng mọi nền văn hóa mà ông được ghé thăm. Ông sẽ ăn tinh hoàn cừu ở Maroc, nhãn cầu hải cẩu ở Canada, trứng kiến ở Mexico, trực tràng lợn sống ở Namibia, và cả tim rắn và thịt nhím ở Việt Nam.
“Tony” kể lại chuyến đi đầu tiên của ông, chuyến đi đã đặt nền móng cho một cuộc đời không ngừng dịch chuyển. Sau này, Anthony Bourdain đã viết trong cuốn “The Nasty Bits: Collected Varietal Cuts, Usable Trim, Scraps, and Bones” rằng: “Du hành thay đổi con người bạn. Khi đặt những bước chân qua cuộc đời này, qua thế giới này, bạn sẽ làm thay đổi đôi chút những gì mình chạm tới; bạn sẽ để lại những dấu vết, dù nhỏ bé đến đâu. Và đổi lại, cuộc đời và những chuyến đi cũng để lại dấu vết trên con người bạn.”











